Nền kinh tế Anh trước mối lo ngại đổ vỡ

[TheBusinessVietNam] Nền kinh tế Anh đang biểu hiện kém xa các nước Bắc Âu kể từ sau cuộc khủng hoảng 2008. Năng suất thấp, đầu tư ít và sự bất bình đẳng trong chất lượng sống giữa các khu vực đã khiến cử tri Anh, nhất là giới trẻ và tầng lớp trung lưu bất bình.

Kinh tế Vương Quốc Anh đối mặt nguy cơ đổ vỡ


Giới truyền thông Anh trong những ngày này đang xôn xao vì lời tuyên bố của một mục sư dựa trên các báo cáo rằng mô hình kinh tế Anh đang đổ vỡ và cần được cải cách triệt để như hồi thập niên 1940 dưới thời Thủ tướng Clement Attlee và 1980 dưới thời Thủ tướng Magaret Thatcher.

Cụ thể, mục sư Justin Welby và giám đốc McKinsey and Siemens UK, ông John Lewis nhận định rằng nền kinh tế Anh đang vô cùng tồi tệ do những điểm yếu trong hệ thống kinh tế. Nguyên nhân chính là do chính phủ không chuẩn bị trước để đối phó với những thách thức như xu thế tự động hóa trong ngành sản xuất, dân số già đi hay việc tách rời khỏi Liên minh Châu Âu (EU).

Theo mục sư Welby và giám đốc Lewis, những con số thống kê của chính phủ về nền kinh tế Anh không phản ánh hết được trải nghiệm của người dân trong xã hội. Chất lượng cuộc sống tại những vùng như thành phố Liverpool hay Đông Bắc Anh đang giảm xuống rõ rệt và đây là nguyên nhân khiến nhiều cử tri thấy bất bình.

Tuy là một mục sư nhưng ông Welby từng là giám đốc điều hành của hãng dầu mỏ EAEO trước khi gia nhập giáo hội. Vị cựu giám đốc này kêu gọi chính phủ cần cải tổ hệ thống giáo dục, tăng thuế với giới thượng lưu, đầu tư vào công nghệ xanh cũng như nhà ở, đồng thời nâng lương cho người lao động.

 


Chân dung Mục sư Justin Welby người nhận định kinh tế của Anh đang tụt dốc (Ảnh: CafeBiz)


Tuyên bố của ông Welby dựa trên những báo cáo của trung tâm tư vấn IPPR được công bố ngay trước thời điểm các cuộc họp của nghị viện Anh diễn ra cũng như sau khi hàng loạt lời chỉ trích của cử tri về chất lượng sống giảm sút.

Theo đó, IPPR chỉ trích nền kinh tế Anh đang biểu hiện kém xa các nước Bắc Âu kể từ sau cuộc khủng hoảng 2008. Năng suất thấp, đầu tư ít và sự bất bình đẳng trong chất lượng sống giữa các khu vực đã khiến cử tri Anh, nhất là giới trẻ và tầng lớp trung lưu bất bình.

Mặc dù GDP của Anh đã tăng khoảng 10% kể từ sau cuộc khủng hoảng nhưng thu nhập khả dụng bình quân đầu người tại đây lại đi ngang. Đây cũng là thời kỳ suy giảm thu nhập bình quân tệ nhất trong vòng 150 năm qua ở Anh. Nói cách khác, những lợi ích kinh tế không được phân bổ cho phần lớn người dân nước này mà tập trung chủ yếu vào tay giới thượng lưu.

 


Những lợi ích từ kinh tế không được phân bố đồng đều ở Vương Quốc Anh (Ảnh Nguồn: BNews)


Báo cáo của IPPR cũng chỉ ra nền kinh tế Anh có nguy cơ phải đối mặt với những cuộc đổ bể và cải cách tương tự như thập niên 1970, khi phố Wall đổ bể và tình trạng giảm phát lan rộng. Những cuộc đổ bể về kinh tế này không chỉ khiến chính phủ các nước phải thay đổi chính sách điều hành mà còn khiến mọi người nhận ra thị trường hoạt động ra sao trên thực tế.

Tổ chức IPPR cũng nhấn mạnh rằng nước Anh nên chuẩn bị cho một thập niên biến động, từ việc rời EU cho đến sự trỗi dậy của các nền kinh tế mới nổi đe dọa vị thế của Anh. Bên cạnh đó là tình trạng lão hóa dân số, tự động hóa phát triển khiến người lao động mất việc làm.

 

Theo Cafebiz

Bài viết cùng chuyên mục
Nhìn lại chính sách ngoại giao của Mỹ dưới thời Donald Trump

Mỹ không rời khỏi NATO và thậm chí một vài đồng minh của Mỹ ở Đông Âu lại thích tính cách của ông hơn so với vẻ ôn...

Sức hút của các cửa hàng truyền thống ở Mỹ ngày một giảm sút

Những cửa hàng truyền thống sẽ vẫn luôn có chỗ đứng trong ngành bán lẻ trong một thời gian dài nữa và thậm chí các...

Bình luận
Gửi bài

Thuật ngữ kinh tế

  • Credit Balance - Dư nợ tín dụng

    Là số tiền còn lại tại một thời điểm nào đó mà doanh nghiệp/cá nhân vay tổ chức tín dụng. Dư nợ tín dụng không được vượt hạn mức tín dụng (LOC)  
  • Leverage – Đầu cơ vay nợ.

    Việc một công ty sử dụng tài sản đi vay để tăng lợi suất trên vốn cổ phần của các cổ đông, với hy vọng lãi suất phải chịu sẽ thấp hơn lợi nhuận trên số tiền đi vay.
  • Market Capitalization – Thị giá vốn.

    Giá trị của một công ty được xác định bởi giá thị trường đối với các cổ phiếu thường đã phát hành còn lại.
  • Institutional investor – Pháp đoàn đầu tư.

    Một tổ chức đầu tư tài sản riêng hoặc những tài sản do các tổ chức khác uỷ thác nắm giữ. Những nhà đầu tư như vậy thường là các quỹ hưu trí, các công ty bảo hiểm, ngân hàng và...
  • Working Capital - Vốn lưu động

    Là một thước đo tài chính đại diện cho tính thanh khoản của một doanh nghiệp, tổ chức hoặc cơ quan chính phủ. Cùng với các tài sản cố định như nhà máy và thiết bị, vốn lưu động...
Len dau trang